|
|
|
1. Sản xuất tiểu thủ công nghiệp Các ngành hàng như rèn, cơ khí có nhiều nguồn hàng sản xuất, gia công, ngành dệt chỉ sản xuất theo thời vụ, theo yêu cầu của khách hàng đặt hàng. Việc phát triển ngành nghề cũng do ảnh hưởng luôn biến động của giá vàng nên chưa thu hút vốn đầu tư vào khu vực sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Giá trị tổng sản lượng năm 2006 đạt 70 tỷ đồng, so kế hoạch là 65 tỷ đồng đạt 107,69 % so cùng kỳ năm 2005 (45 tỷ) đạt 155,56%. 2. Sản xuất nông nghiệp Tổng diện tích canh tác: 18,60 ha, trong đó: - Rau các loại: 17ha. - Diện tích ao hồ: 1,6ha. Diện tích 17 ha chủ yếu trồng rau, màu, trong đó diện tích trong rau an toàn là 4 ha đạt 100% so kế hoạch. Sản lượng rau các loại năm 2006 thu hoạch 2.108 tấn, so kế hoạch (2.108 tấn) đạt 100%, bằng so với cùng kỳ năm 205, trong đó rau an toàn 291 tấn, so kế hoạch (291 tấn) đạt 100%, bằng so cùng kỳ năm 2005. Chăn nuôi gia súc, gia cầm: thực hiện chủ trương chung của thành phố, địa phương thông báo và vận động việc ngưng chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn nên năm 2006 số chuồng trại tiếp tục giảm, lượng heo xuất chuồng ít và dự kiến năm 2007 sẽ ngưng hẳn việc chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn phường Tân Mai. Năm 2006, tình hình sản xuất nông nghiệp, các hoạt động gieo trồng và chăn nuôi cá ổn định, không phát sinh dịch bệnh cây trồng và vật nuôi, không bị ảnh hưởng nắng hạn. Địa phương chú trọng khuyến khích, vận động bà con nông dân trồng rau an toàn, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm đạt năng suất và chất lượng cao. 3. Thương mại - Dịch vụ Phường Tân Mai có chợ Tân Mai và 950 hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn buôn bán phục vụ nhu cầu các mặt hàng đa dạng cho người tiêu dùng. Chủ yếu kinh doanh buôn bán như yếu phẩm và hàng tươi sống, hàng ăn uống giải khát và các dịch vụ trang trí nội thất… Nhìn chung hoạt động thương mại - dịch vụ về giá cả có biến động do giá vàng, giá xăng tăng nhẹ và thất thường nên sức mua sắm giảm, dẫn đến nhiều hộ kinh doanh có doanh thu giảm, chủ yếu là hộ buôn bán nhỏ. Doanh số thương mại - dịch vụ bán ra năm 2006 đạt 215 tỷ đồng, so với kế hoạch (200 tỷ) đồng dạt 107,50%, so với cùng kỳ (160 tỷ) đạt 134,37%. 4. Văn hóa – Thông tin Trong năm 2006 đã tập trung việc tuyên truyền pháp luật, tuyên truyền chào mừng kỷ niệm 31 năm ngày giải phóng Miền Nam Việt Nam thống nhất Tổ quốc, chào mừng các ngày lễ lớn trong năm: Quốc tế lao động 01/5, mừng kỷ niệm 116 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kỷ niệm 52 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, 61 năm Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 02/9. Đặc biệt là đợt tuyên truyền chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X. Tuyên truyền việc phường được công nhận là “phường Văn Hóa”. Tổ chức xe cổ động tham gia đoàn diễu hành của thành phố nhân ngày thể thao Việt Nam 27/3, tuyên truyền chiến dịch diệt lăng quăng phòng chống sốt xuất huyết. Ngoài ra, bộ phận văn hóa thông tin phối hợp với đội văn nghệ tuyên truyền lưu động của trung tâm thể dục thể thao Biên Hòa tổ chức đêm liên hoan văn nghệ chào mừng các ngày lễ lớn. Tổ chức xe cổ động tuyên truyền tháng an toàn giao thông và đôn đốc thu thuế, tổ chức ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc. Công tác truyền thanh của phường được quan tâm, ngoài việc tổ chức tiếp âm đài cấp trên đã được thực hiện liên tục đúng theo qui định của ngành, góp phần tăng thêm lượng thông tin cho nhân dân trong phường. Đài truyền thanh của phường đã chọn lọc một số chương chình chuyên đề phục vụ cho công tác tuyên truyền tại địa phương như tuyên truyền Đại hội Đảng, phòng chống dịch bệnh, an toàn giao thông và tuyên truyền tài liệu hỏi đáp một số Luật mới được ban hành. Thực hiện Chỉ thị 17 của Thủ tướng Chính phủ, địa phương đã củng cố lại tổ công tác liên ngành và tổ chức nhiều đợt kiểm tra, nhắc nhở và chấn chỉnh các hoạt động văn hóa. Trong năm 2006 phường Tân Mai tổ chức lễ đón bằng tái công nhận khu phố văn hóa cho 6 khu phố và đón bằng công nhận “Phường Văn Hóa”, và củng cố lại Ban vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và thực hiện việc đăng ký xây dựng khu phố văn hóa năm 2006. Hoạt động thể thao: Kết hợp với giáo xứ Tân Mai tổ chức giải bóng chuyền, cầu lông, kéo co, nhảy bao bố nhân lễ 30/4 và 01/5, có 220 lượt người tham gia với giá trị giải thưởng là 18 triệu đồng từ nguồn vận động xã hội hóa. Năm 2006, Đội bóng đá câu lạc bộ Hưng Nguyễn thuộc phường đã đi thi đấu giải bóng đá cấp thành phố, kết quả đạt giải nhì. Quy ước của khu phố: Cùng với việc triển khai đăng ký gia đình văn hóa, trong năm địa phương chú ý đến việc tuyên truyền , triển khai quy ước của các khu phố. Tổ chức quán triệt và triển khai thực hiện Nghị định số 79/2003/NĐ.CP ngày 07 tháng 7 năm 2003 của Chính phủ về Quy chế thực hiện dân chủ ở xã và áp dụng đối với phường, thị trấn. Ngoài ra trong năm các khu phố đã tổ chức tốt ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc. Năm 2006 phường Tân Mai có 6/6 khu phố được đề nghị tiếp tục công nhận lại là “khu phố Văn Hóa”, phường được đề nghị tái công nhận là phường văn hóa, chợ Tân Mai được đề nghị công nhận là chợ văn hóa. 5. Giáo dục Trên địa bàn phường có một trường trung học cơ sở, một trường tiểu học, một trường mầm non công lập. Ngoài ra, địa phương còn có hai trường Mẫu giáo dân lập, một trường trung học phổ thông tư thục tương đối đầy đủ điều kiện vật chất và hoàn chỉnh quy trình giáo dục đào tạo từ mầm non đến lớp 1 bậc phổ thông. Do đặc điểm của địa phương nói trên nên việc chăm lo cho sự nghiệp giáo dục địa phương được Đảng – nhà nước và nhân dân trong phường rất quan tâm chú trọng. Đến nay trường lớp tuy chưa quy mô nhưng không còn tình trạng thiếu phòng, lớp , 100% trong độ tuổi được đến trường, số lượng học sinh hàng năm đều duy trì, đảm bảo sĩ số và chất lượng giảng dạy, học tập. Hội khuyến học phường hoạt động tốt, có nhiều hiệu quả. Công tác xoá mù chữ, phổ cập giáo dục được Đảng - UBND phường rất quan tâm và có nhiều đầu tư. Từ năm 1990 địa phương đã tiến hành công tác xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, và đến năm 1995 phường Tân Mai đã được UBND thành phố Biên Hòa công nhận là Hoàn thành công tác xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, năm 1988 đựơc công nhận phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Đến nay phường đã được công nhận là hoàn thành công tác chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, hoàn thành việc phổ cập giáo dục giáo dục tung học cơ sở và năm 2003 được công nhận phường hoàn thành giáo dục trung học phổ thông. Năm 2006 phường được tái công nhận chống mù chữ và phổ cập giáo dục đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục bậc trung học. Công tác phổ cập giáo dục tiếp tục được duy trì. UBND phường đã củng cố lại Ban Chỉ đạo chống mù chữ và phổ cập giáo dục, tiếp tục triển khai kế hoạch phổ cập giáo dục trung học phổ thông, thường xuyên duy trì các lớp phổ cập ban đêm tại trường trung học phổ thông tư thục Lê Quý Đôn. Kết quả năm học 2005 – 2006 như sau: Trường trung học sơ sở Lê Lợi: tổng số học sinh 1.648 học sinh. - Xếp loại về hạnh kiểm + Tốt: 1.469/1648 h/s (89,14%) + Khá: 162/1648 h/s (9,83%) + Trung bình: 15/1648 h/s (0,91%) + Yếu: 2/1648 h/s (0,12%) - Xếp loại về học lực + Giỏi: 651/1648 h/s (39,5%) + Khá: 726/1648 h/s (44,05%) + Trung bình: 268/1648 h/s (16,26%) + Yếu: 3/1648 h/s (0,18%) - Kết quả tốt nghiệp: 453/453 h/s được công nhận hoàn thành chương trình bậc trung học cơ sở. Trường tiểu học Tân Mai: Tổng số học sinh 1.815 học sinh. - Xếp loại về hạnh kiểm Khối 1, 2, 3, 4: thực hiện đủ: 1.449/1.449 đạt 100% Khối 5 + Tốt: 329/366 h/s (89,9%) + Khá tốt: 37/366 h/s (10,1%) - Xếp loại về học lực + Giỏi: 560/1815 h/s (30,9%) + Khá: 796/1815 h/s (43,8%) + Trung bình: 422/1815 h/s (23,3%) + Yếu: 37/1815 h/s (2%) - Kết quả cuối năm học, khối lớp 5: 359/366 học sinh được công nhận hoàn thành chương trình bậc tiểu học, đạt 98,09%. Trường mầm non Tân Mai: Tổng số cháu 382, trong đó bán trú 245 cháu. Kết quả giảng dạy - Bé chăm: 71/382 đạt 97% - Bé ngoan: 71/382 đạt 97% - Bé sạch: 382/382 đạt 100% Một số thành tích nổi bật của ngành giáo dục năm học 2005 – 2006: trường trung học sơ sở Lê Lợi có một học sinh đạt giải học sinh giỏi cấp tỉnh – trường tiểu học Tân Mai một học sinh đạt giải nhất về “Vở sạch chữ đẹp” cấp quốc gia, một giáo viên đạt giải tổng phụ trách giỏi cấp tỉnh – trường mầm non Tân Mai đạt giải 3 về hội thi “khoa học sáng tạo” của tỉnh và 3 giải khuyến khích. Ngày 05 tháng 9 năm 2006: địa phương đã tổ chức cho các trường thuộc địa phương khai giảng năm học mới đúng quy định, số lượng trẻ 6 tuổi vào học lớp một năm học 2006 – 2007 đạt 100% so với danh sách trẻ sinh năm 2000 theo sổ phổ cập của phường. Tình hình các nhà trường ổn định, số giáo viên đủ đáp ứng so với nhu cầu giảng dạy. Công tác xây dựng cơ sở vật chất: năm 2006, hội CMHS các trường tiếp tục hỗ trợ thêm kinh phí, bổ sung thêm trang thiết bị, tu sửa cơ sở vật chất cho các nhà trường. Cụ thể như: quét vôi, dặm vá sửa chữa sân trường, mua sắm thêm đồ dùng phục vụ cho giảng dạy và học tập với kinh phí 200 triệu đồng. Hoạt động của hội khuyến học: Hội khuyến học của phường tiếp tục củng cố và đã đi vào hoạt động thường xuyên. Ngày 25 tháng 8 năm 2006 Hội đã tổ chức lễ hội khuyến học để sơ kết hoạt động và tổ chức tặng quà khuyến học đầu năm học với số quà tặng trị giá trên 20 triệu đồng. Hiện nay hội đang chuẩn bị tổ chức đại hội lần thứ II nhiệm kỳ 2006 – 2010. 6. Xã hội Công tác đền ơn đáp nghĩa đối với các đối tượng chính sách được địa phương rất quan tâm. Ngoài việc thăm hỏi, động viên khi ốm đau, bệnh tật, một số trường hợp gặp khó khăn đã được UBND phường đề xuất giúp đỡ trợ cấp. Công tác đền ơn đáp nghĩa đối với các đối tượng chính sách được địa phương rất quan tâm. Ngoài việc thăm hỏi, động viên khi ốm đau, bệnh tật, một số trường hợp gặp khó khăn đã được UBND phường đề xuất lên ngành Thương binh xã hội giúp đỡ trợ cấp. Trong dịp tết Nguyên đán Bính Tuất – 2006, địa phương tổ chức các đoàn đến thăm, chúc tết và tặng quà các đối tượng chính sách với giá trị các phần quà trên 20 triệu đồng. Đối với các đối tượng chính sách, ngoài khoản trợ cấp tết của Trung ương và tỉnh, UBND phường đã tổ chức 10 đoàn của địa phương đi thăm và chúc tết các đối tượng chính sách, cán bộ lão thành cách mạng, Mẹ Việt Nam anh hùng, tặng mỗi đối tượng một phần quà gồm 1 kg đường và 1 bịch bột ngọt. Các gia đình có con em đang thi hành nghĩa vụ quân sự và chuẩn bị nhập ngũ năm 2006 cũng được địa phương đến thăm hỏi, chúc tết và tặng quà mỗi phần quà gồm 1 kg đường và 1 bịch bột ngọt. Đối tượng gia đình khó khăn, neo đơn: UBND – UBMTTQ và ban hành giáo xứ Tân Mai phối hợp việc vận động giúp đỡ các gia đình gặp khó khăn, già yếu neo đơn. Tổng số tiền vận động để giúp đỡ các gia đình gặp khó khăn, già yếu neo đơn là 37.970.000 đồng. Lao động – Thương binh xã hội: Việc chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội cho các đối tượng chính sách được đảm bảo đúng đối tượng, đúng số lượng và đúng thời gian. Tiếp tục việc tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ bảo hiểm y tế tự nguyện cho nhân dân trên địa bàn phường căn cứ theo quy định về bảo hiểm y tế. Tổng số đối tượng chính sách địa phương quản lý đến tháng 7/2006 là: đối tượng bảo hiểm xã hội: 377; đối tượng ưu đãi Thương binh xã hội: 111; đối tượng cứu tế xã hội: 15. Trong các đối tượng trên, số thương binh các loại là 73 đối tượng, số gia đình liệt sĩ: 34, bệnh binh: 03, tai nạn lao động: 02. Địa phương đã có nhiều cố gắng tích cực, thể hiện được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong việc chăm lo đối với các đối tượng chính sách. Cùng với việc chăm lo cho các đối tượng chính sách là các gia đình nghèo, khó khăn luôn được chú ý giúp đỡ, năm 2002 phường được UBND tỉnh công nhận là đơn vị làm tốt công tác thương binh liệt và người có công. Ban Chỉ đạo xóa đói giảm nghèo đã được củng cố lại và đã sơ kết đánh giá tình hình hoạt động trong thời gian vừa qua, đến nay đang tiến hành thu hồi vốn những đối tượng đã hết thời gian vay và tổ chức vận động quỹ xóa đói giảm nghèo năm 2006. Hiện nay phường không còn hộ thuộc diện hộ đói nghèo theo chuẩn mực 2006. Ngày 27/7/2006 UBND phường đã tổ chức ngày thương binh - liệt sĩ 27/7 lần thứ 59 đảm bảo chu đáo và thiết thực, chú trọng đến các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, neo đơn. Cụ thể như UBND phường đã tổ chức đoàn đi thăm hỏi một số đối tượng và tặng trên 120 xuất quà cho các đối tượng là thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, mỗi xuất trị giá 20.000 đồng gồm đường, sữa… Thực hiện việc xét duyệt công nhận danh hiệu “người công dân kiểu mẫu” và “gia đình cách mạng gương mẫu”, cho các gia đình đối tượng chính sách và trình UBND thành phố công nhận. Năm 2006 phường tiếp tục được công nhận là đơn vị làm tốt công tác thương binh liệt sĩ và người có công. Công tác phòng chống tệ nạn xã hội: các khu phố 1, 3, 4, 5, 6 tệ nạn xã hội về cơ bản không có. Riêng khu phố 2 đã giảm rất nhiều so với những năm trước đây, phường đã được UBND tỉnh và thành phố tái công nhận là địa phương làm tốt công tác phòng chống TNXH. 7. Y tế Công tác khám và chữa các bệnh thông thường tại trạm y tế phường được thường xuyên duy trì song song với việc tăng cường công tác tuyên truyền phòng ngừa các dịch bệnh. Trong thời gian qua, trạm y tế phường thường xuyên kiểm tra và tham gia giải quyết có hiệu quả nhiều đề nghị của nhân dân trong việc giữ vệ sinh môi trường. Năm 2006, trạm y tế phường thực hiện việc khám và điều trị cho 9.534 lượt bệnh nhân trong và ngoài phường, trong đó số bệnh nhân điều trị ngoại trú là 2.363 trường hợp. Số trẻ trong diện tiêm chủng đạt tỷ lệ 100% trẻ trong độ tuổi (410/410). Công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình năm 2006 được chú trọng nhiều, số trường hợp sinh con thứ 3 giảm so với những năm trước còn 10 trường hợp. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của phường năm 2006 là 1,1% (chỉ tiêu 1,2%). Kết quả thực hiện uống vitamin A đợt I/2006 có 877/877 số trẻ được uống vitamin A đạt 100%. Vận động tuyên truyền phòng chống sốt xuất huyết, phối hợp kiểm tra quán hàng rong, phát động phong trào tổng vệ sinh chào mừng ngày lễ 02/9. Thường xuyên truyền thông và tư vấn lồng ghép tại Trạm Y tế phường các bệnh thông thường, duy trì công tác tuyên truyền phòng ngừa các dịch bệnh qua loa đài, tờ bướm. Trong thời gian qua, Trạm Y tế phường thường xuyên kiểm tra, xây dựng chương trình khám chữa bệnh và tham gia giải quyết có hiệu quả nhiều đề nghị của nhân dân trong việc giữ vệ sinh môi trường. Phối kết hợp cùng Trung tâm y tế Biên Hòa tổ chức khám và chữa bệnh, phát thuốc miễn phí nhân đạo cho những người nghèo, khó khăn, già yếu nhân dịp chào mừng 31 năm ngày giải phóng Miền Nam và chào mừng Đại hội Đảng lần thứ X thành công. Từ đầu năm đến nay chưa phát hiện hoặc xảy ra dịch bệnh tại địa phương. Công tác vận động dân số kế hoạch hóa gia đình: do đặc điểm là phường có đông đồng bào có đạo nên việc phát động phong trào thi đua vận động công tác kế hoạch hóa gia đình của phường được chú trọng, hàng năm địa phương đều có kế hoạch và tập trung tuyên truyền về giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của phường hàng năm đều giảm và thấp hơn chỉ tiêu chung, năm 2001: 1,3%, năm 2001: 1,3%, năm 2002: 1,2%, năm 2003: 1,18%, năm 2004: 1,15%, năm 2005: 1,12%, năm 2006 ước: 0,95%. Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu được quan tâm, 100% trẻ trong độ tuổi được tiêm chủng, nhiều năm liền không xảy ra dịch bệnh tại địa phương. Việc giữ vệ sinh môi trường được thường xuyên chú trọng. Địa phương đã tổ chức được phong trào hàng tháng, hàng tuần tổ chức tổng vệ sinh. Thực hiện phòng trào “xanh, sạch, đẹp” trên đường phố và khu dân cư, 87% đường giao thông khu phố được nâng cấp, trải nhựa, bê tông, 100% hộ sử dụng điện, 100% hộ dùng nước sạch, hố xí hợp vệ sinh. 8. Dân số & Gia đình – Trẻ em Ban Dân số – gia đình – trẻ em đã khảo sát, đề xuất với cấp trên quan tâm, hỗ trợ học bổng vượt khó học giỏi cho 02 trường hợp với số tiền 1.100.000 đồng, khảo sát và lập danh sách cho 04 em bị dị tật hàm mặt phẫu thuật miễn phí, tiếp tục lập danh sách đề nghị cấp thẻ khám chữa bệnh cho trẻ dưới 6 tuổi. Trong tháng hành động vì trẻ em, thực hiện chỉ đạo của thành phố, cán bộ công chức địa phương đã đóng góp 01 ngày lương vào quỹ Bảo trợ trẻ em với số tiền 740.000 đồng và trích từ quỹ bảo trợ trẻ em tặng 20 xuất học bổng với số tiền 4.000.000 đồng. Phối kết hợp với y tế, các đoàn thể, vận động tuyên truyền cho cán bộ, công chức và nhân dân về các biện pháp tránh thai, giảm sinh con thứ 03 trong đợt truyền thông chiến dịch 2006. 9. Địa chính – Xây dựng Công tác chính là kết hợp với cấp trên thông báo và hướng dẫn cho các hộ nhân dân bổ sung các tờ khai về nhà và đất, lập tờ khai thuế và làm nghĩa vụ thuế để hoàn chỉnh hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Về xây dựng cơ bản: trong năm 2006 đã thực hiện việc nghiệm thu công trình sửa chữa, nâng cấp văn phòng làm việc của UBMTTQ, văn phòng khu phố 1 và khu phố 2, trong tháng 8 năm 2006 đã nghiệm thu công trình phòng làm việc của UBND phường đưa vào sử dụng, nâng cấp sửa chữa nhỏ trang thiết bị văn phòng cho khu phố 5 và khu phố 6. Phối hợp đơn vị thi công xem xét khảo sát, bảo hành công trình văn phòng khu phố 1, khu phố 2. Công tác xã hội hóa giao thông: triển khai công tác xã hội hóa giao thông khu phố 4, khu phố 2. Phối hợp với các ngành thành phố chuẩn bị xây dựng các công trình như: cầu liên khu phố 5 và khu phố 6; sửa chữa nâng cấp văn phòng khu phố 4; lắp đặt đèn đường xung quanh hai bên đường UBND và trường Lê lợi. Trường tiểu học Tân Mai đã hoàn thành việc xây dựng 18 phòng học (kinh phí từ ngân sách) đưa vào sử dụng từ đầu năm học 2006 – 2007 và khu hiệu bộ (kinh phí xã hội hóa) đưa vào sử dụng cuối năm 2006. Về trật tự đô thị: thường xuyên kiểm tra việc xây dựng, sửa chữa nhà, thực hiện kế hoạch giải tỏa các chợ tự phát, các hàng quán lấn chiếm lòng, lề đường làm cản trở giao thông, gây mất vệ sinh. Về thoát nước suối Tân Mai và suối Bà Bột, UBND phường đã có thông báo vận động, nhắc nhở các hộ không vứt rác xuống lòng suối, cũng như kiểm tra ngăn chặn một số hộ lấn chiếm lòng suối để trồng rau muống làm tắt nghẽn dòng chảy. Hiện nay công ty Dịch vụ Môi trường đã cắm mốc xong hai bên bờ suối theo quy định. |
|
|



