|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
1. Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp Công nghiệp: Có phường An Bình có nhiều trục lộ giao thông ngang qua thuận lợi cho việc giao thông đi lại, thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài. Do đó trên địa bàn có khoảng hàng trăm công ty, xí nghiệp, nhà máy hoạt động sản xuất kinh doanh. Tiểu thủ công nghiệp: Có 54 cơ sở giải quyết gần 750 lao động, sản phẩm chủ yếu là gia công cơ khí, may mặc, nước rửa chén, vật liệu xây dựng, in lụa, mây tre đan lát, chế biến thực phẩm…Tổng giá trị sản lượng toàn ngành trong năm 2006 là 23,9 tỉ/23,4 tỉ so với kế hoạch đạt 102%. 2. Nông – Lâm – Ngư nghiệp Do là một phường công nghiệp, nên phát triển nông – lâm – ngư nghiệp giữ vai trò thứ yếu trong cơ cấu kinh tế của phường. Về trồng trọt: Diện tích gieo trồng 4,5 ha chủ yếu là gieo trồng rau ngắn ngày (rau muống, rau nhút), sản lượng 75/180 tấn đạt 46%. Về chăn nuôi: Do chủ trương ngưng chăn nuôi gia súc trên địa bàn thành phố, nên số lượng đàn heo, bò giảm mạnh, hiện còn 900 con heo và 30 con bò. Về thủy sản: Diện tích ao, hồ có chăn nuôi thủy sản là 3 ha với 32 bè, sản lượng cá thịt 72,4 tấn. 3. Dịch vụ - Thương mại và Du lịch Phường An Bình có 01 chợ cấp 3 với hơn 100 hộ buôn bán chủ yếu là phục vụ cho nhu cầu của nhân dân, chủ yếu là kinh doanh các mặt hàng nhu yếu phẩm và hàng tươi sống… Trong năm 2006 trên địa bàn phường có 1.265 cơ sở cá thể trong đó có 01 doanh nghiệp kinh doanh vàng. Tổng doanh thu thương mại dịch vụ thực hiện được 254,1 tỉ đồng đạt 104,6% kế hoạch năm. Toàn phường có 689 hộ kinh doanh cho thuê phòng trọ, trong đó có 620 hộ được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đạt tỷ lệ 90%. 4. Văn hóa - Thể thao - Giáo dục - Y tế Văn hóa: Tuyên truyền về ngày lễ lớn và các nhiệm vụ chính trị xã hội của tỉnh, thành phố và địa phương… Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” phường được triển khai rộng khắp trên địa bàn phường. Năm 2006 được thành phố tái công nhận giữ vững danh hiệu 5 khu phố và công nhận thêm 02 khu phố văn hóa, số hộ đạt gia đình văn hóa đạt tỉ lệ 95,71%. Tổ chức tốt ngày hội toàn dân đoàn kết trên 11 khu phố. Giáo dục: Các trường tổ chức tổng kết năm học 2005 – 2006 đạt kết quả tốt, tỷ lệ học sinh lên lớp, tốt nghiệp năm học 2005 – 2006 đạt mục tiêu nghị quyết Đảng ủy – hội đồng nhân dân phường năm 2006. Hội Khuyến học tổ chức trao học bổng lần 3 (2006 – 2007) với 40 suất học bổng kinh phí 21.000.000đ và 3 chiếc xe đạp trao cho học sinh nghèo vượt khó hiếu học. Trung tâm học tập cộng đồng: Trong năm tổ chức học tập tuyên truyền Luật phòng chống ma túy, Luật an toàn giao thông, Luật bảo vệ môi trường, Luật hôn nhân gia đình, pháp lệnh tôn giáo…tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật chăm sóc cây mai, cây sứ, nuôi ếch công nghiệp. Công tác phổ cập giáo dục đã tổ chức kiện toàn Ban chỉ đạo chống mù chữ và phổ cập giáo dục. Hoàn thành công tác phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông. Y tế: Thực hiện chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ dưới 01 tuổi đạt 96%. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi giảm còn 14,35%. Trong năm công tác khám chữa bệnh cho nhân dân được trên 10.000 lượt và cấp phát thuốc miễn phí cho gia đình chính sách, các cụ cao tuổi các hộ nghèo trên địa bàn phường được hơn 2.000 lượt người. Phối hợp cùng y tế và các ban ngành phát động phong trào vệ sinh phòng dịch và vệ sinh môi trường, kiểm tra vệ sinh thực phẩm ở các trường học, quán ăn và chợ. Phường được công nhận chuẩn y tế năm 2005. Triển khai chiến dịch truyền thông lồng ghép dân số - Kế hoạch hóa gia đình năm 2006 với nhiều hình thức phong phú, tuyên truyền các biện pháp tránh thai đạt hiệu quả, quan tâm đến dinh dưỡng cho bà mẹ và trẻ em, đảm bảo cấp phát đầy đủ thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi đạt tỷ lệ 100%. 5. Thực hiện các công trình công cộng như sau Tiếp tục hưởng ứng phong trào xã hội hóa giao thông khu phố, vận động nhân dân đóng góp xây dựng các công trình đường nội bộ và các công trình khác trên địa bàn phường như sau:
|
|
|



